Tiền tệ của Iraq là gì?

Đồng tiền chính thức đầu tiên của Iraq là đồng bảng Ottoman được giới thiệu vào cuối thế kỷ 19. Vào thời điểm đó, Iraq đã bị chiếm đóng bởi Đế chế Ottoman và đất nước được thông qua, trong số những thứ khác, tiền tệ của Đế chế. Bảng Anh Ottoman được phát hành bởi Ngân hàng Đế quốc Ottoman (Osmanli Bankas) tại Constantinople (Istanbul ngày nay, Thổ Nhĩ Kỳ). Ngân hàng Hoàng gia Ba Tư là ngân hàng đầu tiên được thành lập tại Iraq và được mở vào tháng 5 năm 1890 tại Baghdad. Ngân hàng Ottoman đã mở chi nhánh tại Iraq vào năm 1892 và bắt đầu phát hành tiền giấy mà việc lưu thông trước đây bị hạn chế ở Constantinople. Tiền tệ là một loại tiền tệ thập phân và được thay thế bằng đồng rupee của Ấn Độ sau khi Anh chiếm đóng ở Iraq trong Thế chiến thứ nhất.

Rupee Ấn Độ

Đồng rupee của Ấn Độ là loại tiền chính thức được sử dụng ở Ấn Độ và cũng được sử dụng ở nhiều thuộc địa của Anh, bao gồm cả Iraq. Đế quốc Anh đã giới thiệu đồng rupee của Ấn Độ tại Iraq vào năm 1915, ngay sau khi chiếm đóng quốc gia Trung Đông này. Thay vì người Anh giới thiệu đồng bảng Anh, như trường hợp của các thuộc địa ở bán cầu tây, quyền lực thuộc địa đã quyết định sử dụng đồng rupee của Ấn Độ, đã được chứng minh là có hiệu quả trong lưu thông ở nhiều thuộc địa khác ở châu Á và châu Phi trong thương mại địa phương và quốc tế. Đồng rupee của Ấn Độ được phát hành bởi chính phủ Ấn Độ, có trụ sở tại New Delhi, Ấn Độ, và việc lưu thông tại địa phương được quy định bởi Ủy ban tiền tệ Iraq có trụ sở tại London.

Dinar Irac

Đồng dinar của Iraq là tiền tệ chính thức hiện tại ở Iraq và được viết tắt trên thị trường tiền tệ quốc tế là IQD. Dinar Iraq được tạo thành từ các tiểu đơn vị được gọi là phim, với 1 dinar Iraq tương đương với 1000 phim, và do đó được thập phân không giống như người tiền nhiệm của nó, rupee Ấn Độ. Đồng dinar của Iraq được giới thiệu vào ngày 1 tháng 4 năm 1932, thay thế cho đồng rupee của thực dân Ấn Độ và được chốt ngang bằng với đồng bảng Anh. Ngân hàng Trung ương Iraq được thành lập vào năm 1947 và trở thành cơ quan quản lý chính kiểm soát sự lưu thông và lạm phát của đồng dinar Iraq, điều đó cũng có nghĩa là đồng tiền cố định của tiền tệ đã được chuyển đổi thành một chốt cứng. Năm 1949, Vương quốc Anh phá giá đồng bảng Anh, một sự phát triển dẫn đến Ngân hàng Trung ương Iraq chuyển sang đồng đô la Mỹ làm tiền tệ neo, với tỷ giá chéo phổ biến của bảng Anh. Sự mất giá của đồng đô la Mỹ trong những năm 1970 đã khiến đồng dinar trải qua sự gia tăng mạnh mẽ về giá trị trong đó 1 USD tương đương với 3, 21 IQD.

Sự lạm phát cao

Chiến tranh vùng Vịnh cuối thế kỷ 20 có tác động bất lợi đến giá trị của đồng dinar Iraq, với lệnh trừng phạt quốc tế đối với Iraq khiến phương pháp in ấn của Thụy Sĩ hiện tại bị thay thế bằng phương pháp địa phương kém hơn. Dinar Iraq phải đối mặt với lạm phát cao như vậy sau chiến tranh rằng vào năm 1995, một dinar Iraq đã được định giá 0, 003 đô la Mỹ trên thị trường chợ đen địa phương. Lạm phát cao cũng dẫn đến tiểu đơn vị dinar, các bộ phim trở nên lỗi thời trong khi tiền giấy được phát hành với mệnh giá lớn (có một tờ tiền giấy 25.000 dinar).