Reaganomics là gì?

Reaganomics đề cập đến các chính sách kinh tế được phát triển bởi Ronald Reagan, tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ. Thành ngữ này được dùng để chỉ bốn trụ cột được thực hiện trong triều đại của Reagan từ năm 1981 đến 1989. Mục đích là để kích thích tăng trưởng kinh tế sau nhiều năm tăng trưởng trì trệ trong thời kỳ của Carter Carter. Còn được gọi là kinh tế học voodoo, các chính sách đã được đưa ra sau cuộc khủng hoảng tín dụng mà đất nước đang trải qua. Các chính sách này dựa trên kinh tế học bị rối hoặc lý thuyết về phía cung.

Nguồn gốc lịch sử

Ronald Wilson Reagan được bầu vào vị trí tổng thống năm 1981. Trước đây ông là một diễn viên Hollywood trước khi được bầu làm Thống đốc thứ 33 của California. Ngay sau khi nhậm chức, ông đã thực hiện một cuộc càn quét chính trị và kinh tế lớn mang tên Reaganomics. Cách tiếp cận triệt để là do tình hình kinh tế thịnh hành dưới thời tổng thống trước đó là Carter Carter. Mặc dù Carter được thừa hưởng một nền kinh tế đã gặp khó khăn, tình hình ngày càng xấu đi trong nhiệm kỳ của mình, đặc biệt là do các yếu tố ngoài tầm kiểm soát của anh. Lạm phát ở mức cao và giá dầu thế giới tiếp tục tăng. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ hai năm 1979 xảy ra là do sản lượng dầu thấp hơn trên toàn thế giới và Chiến tranh Iran-Iraq năm 1980 đã khiến giá nhiên liệu tăng nhanh. Con tin Iran từ 1979 đến 1981 đã dẫn đến sự tự tin thấp trong lãnh đạo. Reagan thừa hưởng một đất nước đang trải qua tình trạng lạm phát, sự suy giảm năng suất công nghiệp cùng với sự cạnh tranh ngày càng tăng từ Nhật Bản và Đức.

Nguyên tắc của Reaganomics

Khi ông lên nắm quyền vào năm 1981, Tổng thống Reagan đã giới thiệu 4 nguyên tắc chỉ đạo như được thảo luận dưới đây.

1. Chi tiêu chính phủ

Chính quyền Reagan nhắm mục tiêu giảm số tiền chi tiêu của các bộ chính phủ. Mặc dù cắt giảm chi tiêu của các bộ khác nhau, đã có sự gia tăng số tiền chi cho Bộ Quốc phòng. Đầu tư cao hơn vào quân đội là tăng cường thể chế. Chi tiêu cho các chương trình xã hội và một số bộ phận đã giảm đáng kể.

2. Giảm lạm phát

Chính phủ giảm nguồn cung tiền để giảm thiểu lượng tiền đang lưu hành. Đạo luật hỗ trợ tăng trưởng tiền chậm hơn trong công dân. Reagan đã hỗ trợ cho các chính sách tiền tệ giúp ổn định đồng đô la so với ngoại tệ. Một chiến lược ngắn hạn khác là vay từ nước ngoài cũng như trong nước. Khoản vay đã biến Mỹ từ chủ nợ lớn nhất thành quốc gia con nợ lớn nhất thế giới.

3. Thuế

Reagan tìm cách giảm bớt gánh nặng thuế đối với thu nhập cá nhân và lãi vốn. Ông hạ thuế thu nhập trong đó khung thuế cao nhất được hạ từ 70% xuống 50% và cuối cùng là 28%. Khung thấp nhất đã giảm xuống 11% từ 14%. Thuế lợi nhuận từ dầu mỏ cuối cùng đã được loại bỏ vào năm 1988. Để khuyến khích các nhà đầu tư, thuế được trả bởi các doanh nghiệp đã được cắt giảm từ 48% đến 34%. Năm 1986, Đạo luật cải cách thuế đã được thông qua để đơn giản hóa hệ thống thuế vốn đã phức tạp. Đạo luật cải cách thuế đã tìm cách giảm thiểu các khung thuế, cắt giảm tỷ lệ cận biên cao nhất cũng như loại bỏ nhiều khoản khấu trừ.

4. Giảm quy định của chính phủ

Chính quyền của Reagan đã tìm cách giảm gánh nặng cho các doanh nghiệp trong các vấn đề quy định. Sự can thiệp của chính phủ vào các doanh nghiệp chỉ khi thực sự cần thiết. Kiểm soát giá trong lĩnh vực dầu mỏ đã được thực hiện để cho phép các lực lượng cung và cầu chiếm ưu thế. Việc bãi bỏ quy định đã dẫn đến tự do hóa trong các dịch vụ truyền hình cáp, vận tải, ngân hàng và điện thoại.

Tác động của Reaganomics

Reaganomics đã giúp đất nước thoát khỏi tình trạng lạm phát, đạt được GDP lớn hơn, đạt được cuộc cách mạng kinh doanh và có sự bùng nổ trên thị trường chứng khoán. Các nhà phê bình, mặt khác, thúc giục rằng nó dẫn đến khoảng cách thu nhập rộng hơn, thâm hụt ngân sách và tăng gấp ba lần nợ quốc gia như là một tỷ lệ phần trăm của GDP chỉ trong 8 năm. Tuy nhiên, trong nhiệm kỳ của Reagan, lạm phát đã giảm từ 12, 5% xuống 4, 4% trong khi GDP thực tế tăng 3, 4%. Những người ủng hộ Reaganomics cho rằng phương pháp này đã khôi phục niềm tự hào và tinh thần của người Mỹ. Ông đã phục vụ hai nhiệm kỳ, một nhiệm kỳ mà không ai trong số năm tổng thống trước đó đạt được.